Kinh — Kệ — Chú

Kinh Từ Bi (Metta Sutta): hoàn cảnh ra đời và nguyên văn tiếng Việt

~6 phút đọc
Kinh Từ Bi (Metta Sutta): hoàn cảnh ra đời và nguyên văn tiếng Việt

Kinh Từ Bi (Karaṇīyamettā Sutta, thường gọi là Metta Sutta) là bài kinh mười đoạn kệ trong Kinh tạng Pāli (Suttanipāta 1.8 và Khuddakapāṭha 9), ca ngợi các đức tính và phương pháp thiền phát triển tâm từ — lòng thương yêu không điều kiện. Kinh được các vị sư Nam tông (Theravāda) thường xuyên tụng như một bài kinh hộ trì (paritta).

Hoàn cảnh ra đời của kinh

Theo chú giải, một nhóm tỳ kheo được Đức Phật gửi vào rừng hành thiền thì gặp sợ hãi. Khi các vị trở về xin lời khuyên, Đức Phật dạy bài kinh này để vượt qua nỗi sợ; các vị tụng kinh và rải tâm từ, nơi tu tập trở nên an ổn. Phần "Nguyên nhân giảng kinh" trong bài kể lại chi tiết câu chuyện.

Các vị sa di Nam tông chuẩn bị thời kinh sáng
Các vị sa di Phật giáo Nam tông chuẩn bị thời kinh buổi sáng — Ảnh: Photogoddle, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Kinh Từ Bi dạy điều gì?

Bài kinh nêu những phẩm chất cần có để phát triển tâm từ — như ngay thẳng, chân thành, dễ khuyên bảo, hiền hòa, không kiêu mạn — và hướng dẫn rải lòng mong ước an lành đến mọi loài, gần hay xa, đã sinh hay sắp sinh.

Bản tiếng Việt trong bài do Hòa thượng Thích Thiện Châu dịch.

Tu sĩ Phật giáo Nam tông trong chùa Khmer ở Ba Thê, An Giang
Tu sĩ Phật giáo Nam tông tại một ngôi chùa Khmer ở Ba Thê (An Giang) — Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nguyên văn Kinh Từ Bi

Nguyên nhân giảng kinh:

Thông thường trước khi nhập hạ, các tỳ kheo từ mọi nơi đến thăm viếng đức Thế Tôn và xin một đề mục hành thiền, trong đó có một nhóm 500 thầy tỳ kheo. Sau khi nhận đề mục, các vị tỳ kheo cùng nhau đi đến một khu rừng vắng thuộc dãy núi Himavantu để an cư và hành thiền. Hàng ngày, các thầy đi vào thôn làng gần đó để khất thực. Dân chúng trong làng hoan hỷ cúng dường và cung thỉnh các thầy nhập hạ tại khu rừng để họ có dịp cúng dường, thọ giới và nghe Pháp.

Các thầy tỳ kheo thường hành thiền dưới các cội cây to lớn. Ban đầu chư thiên cư ngụ trên cây rất vui mừng và để tỏ lòng kính trọng chư tăng, họ đã tạm dời xuống mặt đất. Nhưng sau một thời gian, cuộc sống dưới mặt đất rất bất tiện nên họ đâm ra bực bội. Biết không thể nào chịu đựng được như vậy trong 3 tháng nên chư thiên đã tìm đủ mọi cách để xua đuổi các thầy tỳ kheo ra khỏi khu rừng. Họ đã biến hóa ra những hình ảnh ghê sợ, những âm thanh rùng rợn và các mùi hôi thối để làm nản lòng các thầy. Trước những cảnh tượng kinh hoàng, tâm của các thầy bắt đầu dao động, sợ hãi, và đâm ra mất ăn, mất ngủ, thân thể bệnh hoạn, ốm yếu, gầy mòn. Tinh thần không còn yên ổn để hành thiền. Do đó các thầy cùng nhau quay về Savatthi để xin đức Phật cho nhập hạ tại một nơi khác.

Đức Phật hỏi nguyên do và nhận thấy không có chỗ nào thích hợp hơn khu rừng, nên ngài khuyên các thầy nên trở về chỗ cũ và dạy cho các thầy bài kinh Từ Bi để tự bảo vệ khỏi sự quấy phá của chư thiên. Các thầy tuân lời và học thuộc lòng bài kinh này trước khi trở lại khu rừng.

Trên đường trở về cũng như khi đến nơi, các thầy đều tụng bài kinh này và tập rải tâm từ cho chư thiên khiến họ hoan hỷ nên họ không còn quấy phá các thầy nữa. Nhờ vậy mà các thầy sống yên ổn tu hành, tinh tấn hành thiền và đều đắc quả sau mùa an cư năm đó.

Chánh Kinh:

1. Ai khôn ngoan muốn tìm hạnh phúc

Và ước mong sống với an lành

Phải tài năng ngay thẳng công minh

Nghe lời phải dịu hiền khiêm tốn.

2. Ưa thanh bần dễ dàng chịu đựng

Ít bận rộn vui đời giản dị

Chế ngự giác quan và thận trọng

Không liều lĩnh chẳng mê tục lụy.

3. Không chạy theo điều quấy nhỏ nhoi

Mà thánh hiền có thể chê bai

Đem an vui đến cho muôn loài

Cầu chúng sinh thảy đều an lạc.

4. Không bỏ sót một hữu tình nào

Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh

Giống lớn to hoặc loại dài cao

Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.

5. Có hình tướng hay không hình tướng

Ở gần ta hoặc ở nơi xa

Đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra

Cầu cho tất cả đều an lạc.

6.Với ai và bất luận ở đâu

Không lừa dối chẳng nên khinh dễ

Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ

Đừng mưu toan gây khổ cho nhau.

7. Như mẹ hiền thương yêu con một

Dám hy sinh bảo vệ cho con

Với muôn loài ân cần không khác

Lòng ái từ như bể như non.

8. Tung rải từ tâm khắp vũ trụ

Mở rộng lòng thương không giới hạn

Tầng trên, phía dưới và khoảng giữa

Không vuớng mắc, oán thù, ghét bỏ.

9. Khi đi, khi đứng, hoặc nằm ngồi

Hễ lúc nào tinh thần tỉnh táo

Phát triển luôn dòng chánh niệm này

Là lối sống đẹp cao nhất đời.

10. Đừng để lạc vào nơi mê tối

Đủ giới đức, trí tuệ cao vời

Và dứt bỏ lòng tham dục lạc

Được như thế thoát khỏi luân hồi.

Câu hỏi thường gặp

Kinh Từ Bi còn gọi là gì?

Kinh còn được gọi là Metta Sutta hoặc Karaṇīyamettā Sutta, theo chữ mở đầu "Karaṇīyam" (điều nên làm).

Kinh Từ Bi nằm ở đâu trong Kinh tạng?

Trong Kinh tạng Pāli, ở Suttanipāta 1.8 và Khuddakapāṭha 9.

Kinh Từ Bi có bao nhiêu đoạn?

Kinh gồm mười đoạn kệ.

Vì sao Kinh Từ Bi được tụng như kinh hộ trì?

Theo chú giải, Đức Phật dạy kinh này cho các tỳ kheo gặp sợ hãi khi hành thiền trong rừng; tụng kinh và rải tâm từ giúp họ vượt qua nỗi sợ. Phật giáo Nam tông vì vậy tụng kinh như một bài paritta (hộ trì).

Bản tiếng Việt trong bài do ai dịch?

Do Hòa thượng Thích Thiện Châu dịch.

Nguồn tham khảo